01 năm Phong trào “Bình dân học vụ số”: Chuyển dịch từ nhận thức sang hành vi số

7 giờ trước |   Lượt xem: 122 |   In bài viết | 

Nền tảng học tập trực tuyến “Bình dân học vụ số” do Bộ Công an vận hành

Tác động chuyển dịch tư duy và hành động

Thành công tiêu biểu trong giai đoạn đầu tiên này là việc tạo ra sự chuyển biến về mặt nhận thức xã hội, định hình kỹ năng số trở thành một năng lực nền tảng bắt buộc đối với mỗi công dân trong thời đại cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy và quản trị số. Từ khối cơ quan hành chính nhà nước cho đến lực lượng vũ trang, phương thức làm việc truyền thống dựa trên giấy tờ đã dịch chuyển sang môi trường số đồng bộ.

Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trên cả nước đã cơ bản làm chủ được các công cụ điều hành tác nghiệp trực tuyến, vận hành từng bước nhuần nhuyễn hệ thống ký số và xử lý văn bản điện tử.

Kỹ năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào công tác tham mưu, soạn thảo văn bản cũng dần được phổ cập thông qua các chương trình bồi dưỡng quy mô lớn của các cơ quan Trung ương, mở đường cho việc hình thành các "văn phòng số" thực chiến. Cùng với đó, hệ thống báo chí, truyền thông đa nền tảng kết hợp cùng chương trình truyền hình phát sóng hằng tuần đã tạo ra một dòng chảy thông tin chính thống liên tục, cổ vũ tinh thần tự học và làm lan tỏa các mô hình chuyển đổi số thiết yếu.

Đặc biệt, nền tảng học tập trực tuyến “Bình dân học vụ số” do Bộ Công an vận hành đã tạo ra môi trường học tập tập trung, thống nhất, chính thức được công nhận đạt tiêu chí Nền tảng số quốc gia vào ngày 05/01/2026, đặt nền móng vững chắc cho việc mở rộng quy mô người học trong giai đoạn tiếp theo. 

Tại lễ phát động phong trào “Bình dân học vụ số” của tỉnh Quảng Bình

Phong trào mang lại những hỗ trợ thiết thực cho người dân

Nền tảng và phong trào “Bình dân học vụ số” đã mang lại những hỗ trợ rất thiết thực cho người dân trên khắp mọi miền tổ quốc thông qua phương châm hành động “dễ học - dễ hiểu - dễ làm” và mô hình “cầm tay chỉ việc” tại chỗ.

Phong trào đã bám sát vào nhu cầu thiết yếu hằng ngày của người dân, giúp họ nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ để giải quyết các thủ tục hành chính trực tuyến qua ứng dụng VNeID, sử dụng dịch vụ ngân hàng số và tự bảo vệ mình trước những chiêu trò lừa đảo công nghệ cao.

Ở góc độ kinh tế và sinh kế, phong trào đã tạo ra những tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến hành vi kinh doanh của các tiểu thương, hợp tác xã và hộ gia đình thông qua việc hình thành hệ sinh thái các mô hình nông thôn số, chợ số hay thanh toán không dùng tiền mặt. Người dân tại các địa phương như Hải Phòng đã được hướng dẫn từng bước đưa các nông sản, sản phẩm OCOP lên sàn thương mại điện tử; các hộ kinh doanh tại Ninh Bình được bồi dưỡng trực tiếp về hóa đơn điện tử, chữ ký số; trong khi các doanh nghiệp siêu nhỏ tại Lâm Đồng được tiếp cận sâu với các chuyên đề ứng dụng trí tuệ nhân tạo phù hợp quy mô sản xuất.

Sức lan tỏa bền vững này có được nhờ sự đồng hành của mạng lưới hỗ trợ thường trực từ Tổ công nghệ số cộng đồng ở cấp cơ sở, kết hợp với sức trẻ của lực lượng học sinh, sinh viên trong vai trò các “đại sứ số” theo mô hình “Mỗi học sinh - một người thân số hóa” để kiên trì hướng dẫn người thân và cộng đồng tự tin thao tác độc lập.

Ngay cả đối với những nhóm đối tượng yếu thế và chịu nhiều thiệt thòi như người khuyết tật, phong trào cũng mang lại sự hỗ trợ nhân văn thông qua các lớp học chuyên biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh hay chương trình đào tạo người mù sử dụng điện thoại thông minh bằng giọng nói tại Thanh Hóa, minh chứng cho một xã hội số bao trùm và không ai bị bỏ lại phía sau. 

Đo lường kết quả bằng chỉ tiêu cụ thể

Những chuyển biến căn bản về thói quen số của xã hội trong năm qua đã được định lượng bằng các chỉ tiêu cụ thể trong báo cáo thống kê của các bộ, ngành, địa phương. Đối với khu vực công, hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều đã đạt và vượt chỉ tiêu đề ra khi có trên 80% cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được trang bị đầy đủ hiểu biết về chuyển đổi số cùng kỹ năng sử dụng dịch vụ số cho công việc. Thậm chí, nhiều địa phương vùng cao như Lạng Sơn, Cao Bằng, Sơn La cùng với Ninh Bình đã xuất sắc ghi nhận tỷ lệ này chạm ngưỡng 100%.

Đối với lực lượng vũ trang, tỷ lệ cán bộ, chiến sỹ làm chủ các nền tảng và dịch vụ số phục vụ nhiệm vụ chuyên môn chuyên biệt cũng duy trì ở mức rất cao, cụ thể đạt 88,57% trong Quân đội và 92% trong Công an.

Trong lĩnh vực giáo dục, chỉ tiêu trang bị kiến thức, năng lực số và kỹ năng an toàn trên không gian mạng cho học sinh trung học và sinh viên trên toàn quốc đã hoàn thành với tỷ lệ đạt 100%.

Mặc dù chỉ tiêu đạt 80% người dân trưởng thành sở hữu tri thức số, sử dụng thiết bị thông minh và dịch vụ số thiết yếu vẫn có sự phân hóa rõ rệt giữa các vùng miền với những kết quả chưa đồng đều tại một số tỉnh miền núi như Sơn La đạt 71%, Lạng Sơn đạt 70% hay Cao Bằng đạt 55%, song tại nhiều địa bàn trọng điểm như Thanh Hóa, Hà Tĩnh hay Quảng Ninh, con số này đã đạt hoặc tiệm cận rất sát mục tiêu đề ra.

Riêng đối với mục tiêu chiến lược đạt 40 triệu người dân trưởng thành được xác nhận đạt phổ cập tri thức chuyển đổi số trên hệ thống VNeID, các địa phương dù chưa có hướng dẫn thống nhất từ Trung ương nhưng đã chủ động linh hoạt sử dụng các tiêu chí thay thế tương đương, như số lượng tài khoản định danh điện tử cấp độ 2 đã kích hoạt, hoặc số người hoàn thành các khóa bồi dưỡng trực tuyến để làm căn cứ quản lý và thúc đẩy phong trào tiến lên. 

Người dân Hà Nhì ở xã Y Tý, tỉnh Lào Cai làm du lịch nhờ vận dụng mạng xã hội

Định hướng 2026: chuẩn hóa thước đo bằng dữ liệu thực

Bước sang năm 2026, để đưa phong trào phát triển theo hướng đi vào chiều sâu và thực chất, cần thiết phải xây dựng và triển khai thống nhất một bộ chỉ số theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện Phong trào trên toàn quốc, nhằm làm cơ sở đo lường khách quan và có thể so sánh giữa các địa phương.

Nguyên tắc cốt lõi của bộ chỉ số mới là chuyển dịch từ việc chỉ đạo định tính, đánh giá cảm tính sang việc theo dõi, chấm điểm dựa trên dữ liệu số thực tế. Tiêu chí đánh giá sẽ tuyệt đối ưu tiên kết quả đầu ra thực chất và các tác động xã hội cụ thể, thay vì chỉ căn cứ vào số lượng lớp bồi dưỡng được mở ra hay số lượng người dân đăng ký tham gia các buổi tập huấn như trước đây.

Bộ chỉ số này yêu cầu tất cả các kết quả thực hiện của địa phương phải được chuẩn hóa đồng bộ theo Khung năng lực số quốc gia và được trích xuất trực tiếp từ minh chứng, dữ liệu của các hệ thống, nền tảng số đang vận hành, nhằm hạn chế tối đa việc báo cáo thủ công hay làm đẹp số liệu định tính. Thước đo chủ yếu đối với công chức, viên chức sẽ là kết quả xử lý công việc trực tuyến, tần suất sử dụng hệ thống số và mức độ hài lòng thực tế của người dân; trong khi kết quả của người dân sẽ được đo lường bằng chính hành vi học tập và tần suất sử dụng các dịch vụ số thiết yếu trong đời sống hằng ngày.

Đặc biệt, định hướng năm 2026 cũng đặt ra tiêu chí tích hợp dữ liệu đánh giá và xác nhận mức độ phổ cập kỹ năng số trực tiếp lên nền tảng định danh VNeID, đồng thời, liên thông kết quả học tập bắt buộc của cán bộ vào hồ sơ điện tử, biến kết quả này thành tiêu chí cứng để xếp loại thi đua, quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ trong toàn hệ thống chính trị. 

Thu hẹp khoảng cách công nghệ vùng biên cương

Nhằm đảm bảo tính công bằng xã hội và thu hẹp khoảng cách số đang có xu hướng nới rộng, kế hoạch triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” năm 2026 cũng đặt trọng tâm ưu tiên cao nhất vào các chính sách, hoạt động hướng tới đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số và kế hoạch phổ cập kỹ năng số cho vùng biên giới, hải đảo. Nhà nước sẽ tập trung huy động tổng lực sự tham gia của hệ thống chính trị cơ sở gắn với trách nhiệm của người đứng đầu tại các xã, phường vùng biên để triển khai các gói hướng dẫn mẫu và kịch bản truyền thông phù hợp với đặc thù văn hóa địa bàn.

Để giải quyết tận gốc bài toán thiếu thiết bị và đường truyền không ổn định, giải pháp đột phá là thu hút sự đồng hành, hỗ trợ của các doanh nghiệp viễn thông và doanh nghiệp công nghệ hàng đầu cùng tham gia đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật chuyên sâu. Các doanh nghiệp này sẽ phối hợp với chính quyền để thực hiện chính sách cung cấp điện thoại thông minh cho người dân tại những vùng biên giới và địa bàn đặc biệt khó khăn.

Các hoạt động bồi dưỡng tri thức số sẽ tiếp tục phát huy các mô hình sáng tạo của giai đoạn trước như việc biên soạn các bài giảng kỹ năng số cơ bản đa ngôn ngữ bằng tiếng dân tộc, cũng như tập trung đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ trưởng bản và người có uy tín trong cộng đồng các dân tộc thiểu số để họ phát huy vai trò thủ lĩnh, dẫn dắt bà con dân bản cùng học tập.

Các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và phổ thông tại địa bàn cũng sẽ được giao nhiệm vụ tổ chức các lớp phổ cập ngắn hạn kết hợp đưa học sinh, sinh viên biên giới tham gia vào các Tổ công nghệ số cộng đồng trực chiến tại Bộ phận Một cửa, quyết tâm biến năng lực số thành công cụ sắc bén giúp đồng bào vùng cao đổi mới đời sống, phát triển kinh tế biên mậu vững chắc.

Lam Giang