Quốc hội thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

10:24 PM 23/04/2026 |   Lượt xem: 418 |   In bài viết | 

Bộ trưởng Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu trước khi Quốc hội thông qua dự thảo Luật

Kết quả biểu quyết có 492/492 đại biểu có mặt tán thành, chiếm 98,40% tổng số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết, không có đại biểu không tán thành và không có đại biểu không quyết định. Kết quả đã thể hiện sự thống nhất rất cao của Quốc hội đối với việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tín ngưỡng, tôn giáo.

Trước khi tiến hành biểu quyết thông qua, các đại biểu đã nghe Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang trình bày Báo cáo Tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).

Báo cáo cho biết, những vấn đề lớn của dự thảo Luật đã được nghiên cứu, tiếp thu và hoàn thiện kỹ lưỡng, trong đó có các nội dung liên quan đến hoạt động tín ngưỡng trên không gian mạng, hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng, cũng như yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.

Quá trình hoàn thiện dự thảo Luật được Chính phủ thực hiện với tinh thần nghiêm túc, thận trọng, cầu thị, bảo đảm vừa tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Với 98,40% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội chính thức thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Theo đó, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) gồm 9 chương, 61 điều quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

Luật quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo.

Nguyên tắc hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là: tuân thủ Hiến pháp và quy định của pháp luật; bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, tiết kiệm, chống lãng phí, bảo vệ tài nguyên, môi trường; không vi phạm các quy định bị cấm.

Luật quy định các hành vi bị nghiêm cấm. Cụ thể, luật quy định cấm phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; cấm ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; cấm xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo.

Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo không được xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; trái đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ giữa người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau cũng nằm trong những hành vi cấm.

Luật cũng cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi. Đáng chú ý, luật cấm sử dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

Đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, Luật quy định khi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, tổ chức, cá nhân quy định tại điểm b khoản 3 Điều 15 của Luật này, người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung phải thông báo, đăng ký hoặc đề nghị về việc thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật này.

Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, Luật quy định rõ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

Tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật có liên quan. Tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng có trách nhiệm triển khai các giải pháp kỹ thuật, phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền gỡ bỏ, ngăn chặn các nội dung vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

Một nội dung đáng chú ý trong lần sửa đổi này là việc tiếp tục đẩy mạnh phân cấp thủ tục hành chính, bảo đảm cấp bộ chỉ thực hiện không quá 30% tổng số thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. 

Theo đó, Chính phủ đã chuyển 8 thẩm quyền, thủ tục hành chính từ Bộ Dân tộc và Tôn giáo về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bao gồm:

- Thủ tục đề nghị cấp đăng ký pháp nhân phi thương mại cho tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều tỉnh (khoản 2 Điều 27)

- Thủ tục đề nghị tự giải thể tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều tỉnh theo hiến chương (khoản 2 Điều 28)

- Thủ tục đề nghị giải thể cơ sở đào tạo tôn giáo theo quyết định của tổ chức tôn giáo (Điều 38)

- Thủ tục đề nghị tổ chức hội thảo, hội nghị có yếu tố nước ngoài (khoản 2 Điều 40)

- Thủ tục đề nghị tổ chức hội thảo, hội nghị liên tôn giáo (khoản 2 Điều 40)

- Thủ tục đề nghị mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài hoặc người Việt Nam làm chức sắc cho tổ chức tôn giáo ở nước ngoài giảng đạo của tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo (khoản 3 Điều 44)

- Thủ tục đề nghị cử chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ tham gia hoạt động tôn giáo ở nước ngoài (khoản 2 Điều 46)

- Thủ tục đề nghị phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam (điểm b khoản 1 Điều 47)

Việc lấy ý kiến đối với nội dung này đã được Bộ Dân tộc và Tôn giáo thực hiện với Chủ tịch UBND 34 tỉnh, thành phố và nhận được sự đồng thuận của hầu hết các địa phương về việc tiếp nhận các thẩm quyền được phân cấp. 

Đây được xem là bước cụ thể hóa chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Việc Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có ý nghĩa quan trọng trong tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và thích ứng với những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn, nhất là trên môi trường số.

 

(Tổng hợp)